Thực trạng và triển vọng phát triển của luật sư và nghề luật sư

“Nghề luật sư ở Việt Nam hiện nay là một nghề cao quý, bởi hoạt động nghề nghiệp của luật sư nhằm mục đích góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; góp phần phát triển kinh tế, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.([1])  Câu nói mở đầu của Quy tắc đạo đức và ứng xử nghể nghiệp luật sư Việt Nam đã phần nào cho thấy tầm quan trọng, giá trị to lớn của luật sư và nghề luật sư đối với sự  phát triển của đất nước ta hiện nay.

Trong bối cảnh hiện nay, luật sư và nghề luật sư đang nhận được sự quan tâm to lớn từ Đảng và Nhà nước, đồng thời có triển vọng phát triển to lớn trong bối cảnh đất nước đang ngày càng giàu mạnh, văn minh và hội nhập ngày càng sâu rộng vào sự phát triển chung của thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu và kết quả đã đạt được, tổ chức và hoạt động luật sư nước ta vẫn còn những hạn chế, yếu kém.

Trước tình hình trên, tác giả mong muốn thông qua bài viết này để một lần nữa nhìn nhận tổng quát về “Thực trạng và triển vọng phát triển của luật sư và nghề luật sư ở Việt Nam nói chung và ở địa phương của tác giả – tỉnh Nghệ An nói riêng

CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LUẬT SƯ VÀ NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM

  1. Khái niệm vềluật sư

Ở Việt Nam hiện nay, khái niệm luật sư vẫn còn có nhiều cách hiểu khách nhau và đôi khi có sự nhầm lẫn giữa thuật ngữ “luật sư” và “luật gia”. Nguyên nhân của hiện tượng này một mặt, là do pháp luật nói chung và pháp luật về luật sư nói riêng chưa được hoàn thiện, mặt khác, là do việc dịch các thuật ngữ có liên quan từ ngôn ngữ nước ngoài chưa chuẩn xác, chưa thống nhất. Mặt khác, việc không thống nhất khái niệm luật sư còn có nguyên nhân nội hàm khái niệm luật sư rất rộng, gây khó khăn cho kỹ thuật lập pháp.

Tuy nhiên, theo quy định của Luật luật sư năm 2006, luật sư Việt Nam có thể được hiểu là người có quốc tịch Việt Nam, có bẳng cử nhân luật, có chứng nhận đào tạo nghề luật sư và qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, đạt kết quả của kỳ Kiểm tra hết tập sự hoặc được miễn đào tạo và miễn tập sự theo quy định của pháp luật, được Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư, đã gia nhập một Đoàn luật sư, được cấp thẻ luật sư và cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng trong tổ chức hành nghề luật sư hoặc với tư cách cá nhân.

Về chức năng xã hội của luật sư và vị trí, vai trò của luật sư trong hệ thống tư pháp Việt Nam, chúng ta có thể hiểu Luật sư là một chức danh độc lập trong hệ thống các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, có đủ tiêu chuẩn và điều kiện hành nghề luật chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật, cung cấp dịch vụ pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng trước Tòa án, các cơ quan nhà nước và các chủ thể khác theo quy định của pháp luật và quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư, góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Khi bàn đến khái niệm nghề luật sư ở Việt Nam, trước hết chúng ta phải hiểu nghề luật sư là một nghề luật, trong đó các luật sư bằng kiến thức pháp luật của mình, độc lập thực hiện các hoạt động trong phạm vi hành nghề theo quy định của pháp luật và quy chế trách nhiệm nghề nghiệp, nhằm mục đích phụng sự công lý, góp phần bảo vệ pháp chế và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Theo nhiều nhà nghiên cứu, nghề luật sư không giống như những nghề bình thường khác vì ngoài những yêu cầu về kiến thức và trình độ chuyên môn thì việc hành nghề luật sư còn phải tuân thủ theo quy chế đạo đức nghề nghiệp. Điều này tạo nên nét đặc thù riêng của nghề luật sư và nét đặc thù này tác động sâu sắc đến kỹ năng hành nghề, đặc biệt là kỹ năng tranh tụng của các luật sư. Nghề luật sư là một nghề đặc biệt và mang những đặc thù nhất định, đó là đặc thù về trình độ chuyên môn và có tính chuyên nghiệp cao; tính độc lập và sự đòi hỏi về đạo đức nghề nghiệp. Cụ thể ([2]):Nghềluật sưvà đặc thù của nghề luật sư

Thứ nhất, nghề luật sư đòi hỏi những người hành nghề phải có trình độ chuyên môn và có tính chuyên nghiệp cao. Kiến thức chuyên môn sâu về pháp luật là cơ sở để luật sư hành nghề. Luật sư là người am hiểu kiến thức pháp luật chuyên ngành, hiểu rõ các quy định của pháp luật và biết cách áp dụng nó trong từng trường hợp cụ thể. Trong thời đại ngày nay, luật sư phải hiểu hệ thống pháp luật một cách tổng thể, nắm vững một hoặc một số lĩnh vực pháp luật chuyên ngành thì mới có đủ khả năng hành nghề.

Thứ hai, luật sư hành nghề độc lập và tự chịu trách nhiệm cá nhân trước khách hành về hoạt động nghề nghiệp của mình. Tính độc lập là cơ sở quan trọng trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư. Tính độc lập trong hoạt động nghề nghiệp luôn được khẳng định và luật sư có trách nhiệm duy trì và bảo vệ nguyên tắc độc lập trong hành nghề. Tính độc lập là điều kiện cơ bản, một đảm bảo quan trọng để luật sư hoàn thành chức năng nghề nghiệp của mình, đảm bảo lợi ích cao nhất cho khách hàng và xã hội. Tính độc lập trong hành nghề của luật sư được thể hiện ở chỗ luật sư hành nghề độc lập trên cơ sở pháp luật và quy tắc đạo đức nghề nghiệp chứ không chịu bất kỳ áp lực, một cản trở nào từ bên ngoài, thậm chí từ lợi ích cá nhân của chính bản thân luật sư. Tính độc lập không chỉ là một đặc tính cơ bản, một thế mạnh, một nghĩa vụ mà xét một cách tổng thể, nó chính là bản chất nghề nghiệp của luật sư.

Luật sư hành nghề độc lập và sự độc lập được thể hiện là sự tự do trong hành nghề, không chịu sự lệ thuộc về mặt hành chính với cơ quan quản lý nhà nước cũng như các cơ quan tiến hành tố tụng. Nghề luật sư mang tính tự quản cao, mà thể hiện rõ nét nhất là trong hoạt động nghề nghiệp ít có sự can thiệp của cơ quan nhà nước. Tính tự quản bắt nguồn từ tính chuyên nghiệp và tính độc lập của luất sư.Độc lập với cơ quan nhà nước là cơ sở để luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng; còn độc lập với khách hàng là cơ sở để đảm bảo sự tuân thủ pháp luật và quy tắc nghề nghiệp của luật sư. Tính độc lập của luật sư tạp ra sự bình đẳng trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư và ngược lại nếu không có sự bình đẳng thì không có sự độc lập của luật sư.

Thứ ba, luật sư là một nghề không chỉ đòi hỏi về chuyên môn cao mà còn đòi hỏi người hành nghề phải có tư cách đạo đức tốt. Luật sư mang trên mình niềm tin mà xã hội và khách hàng ủy thác cho họ. Khách hàng là những người không có kiến thức chuyên môn và không tự mình đưa ra quyết định, vì vậy họ đặt niềm tin vào người luật sư. Sự tin cậy đó đôi khi có thể bị lạm dụng và sự lạm dụng này sẽ hạ thấp danh dự nghề nghiệp, xói mòn niềm tin vào công lý và pháp luật. Luật sư phải luôn đặt quyền lợi của khách hàng và xã hội lên trên lợi ích của chính bản thân mình. Quy tắc đạo đức nghề nghiệp góp phần khắc phục sự mất cân bằng và giải quyết những xung đột quyền lợi có thể xảy ra. Cũng chính vì tính đặc thù của nghề nghiệp mà tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp của luật sư lại đòi hỏi cao hơn các ngành nghề bình thường khác.

CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT SƯ VÀ NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM

  1. THỰC TRẠNG VỀ LUẬT SƯ VÀ NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM
    • Những thuận lợi và kết quả đạt được
      • Những thuận lợi để luật sư và nghề luật sư phát triển

       Trong những thập niên gần đây, cụ thể là trong gần ba thập kỷ từ thời điểm bắt đầu công cuộc đổi mới vào những năm 80 của thế kỷ trước, bối cảnh đất nước ta có những chuyển biến thuận lợi cho sự phát triển của các cá nhân, tổ chức nói riêng, trong tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội nói chung, trong đó có luật sư và nghề luật sư. Những kết quả đạt được từ việc thực hiện các chính sách đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cải cách tư pháp, cải cách hành chính, hoàn thiện hệ thống pháp luật và công cuộc hội nhập quốc tế tạo tiền đề quan trọng cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, tác động tích cực đến việc phát triển nghề luật sư nước ta, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, hoạt động luật sư ở nước ta trưởng thành nhanh chóng.

Thuận lợi đầu tiên phải kể đến là việc Đảng và Nhà nước ta đã và đang xây dựng một hành lang pháp lý ngày một vững chắc cho sự phát triển của luật sư và nghề luật sư ở nước ta, đồng thời phê duyệt nhiều chủ trương, chính sách phục vụ cho sự phát triển này mà kết quả rõ nét nhất chính là việc luật luật sư được thông qua tại kỳ họp thứ 9, quốc hội khóa XI ngày 22 tháng 6 năm 2006 (được sửa đổi bổ sung vào tháng 11/2012). Luật luật sư là kết quả của một quá trình chuẩn bị lâu dài trước đó của Đảng và Nhà nước ta trước yêu cầu phát triển đất nước, gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, bắt đầu bằng việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 vào ngày 02 tháng 6 năm 2005, đặt ra mục tiêu phát triển toàn diện đội ngũ luật sư và chất lượng dịch vụ pháp lý của luật sư.

Đến năm 2011, quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam ra đời đã cùng với luật luật sư điều chỉnh hoạt động của luật sư. Bộ quy tắc được xem như những chuẩn mực về đạo đức và ứng xử nghề nghiệp, là thước đo phẩm chất đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư.

Bên cạnh việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật mới, Nhà nước ta cũng đang nỗ lực củng cố và hoàn thiện các văn bản luật đã có trước đó, tiêu biểu như trong lĩnh vực dân sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư tham gia tích cực hơn vào hoạt động của các cơ quan nhà nước, qua đó, làm giảm khoảng cách giữa luật sư với công dân, cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp, nâng cao vị thế và vai trò của luật sư trong hoạt động tố tụng.

Bên cạnh đó, Đảng và Nhả nước ta cũng đã ban hành nhiều văn bản thể hiện sự quan tâm to lớn nhằm phát triển đội ngũ luật sư và nghề luật sư, như nghị quyết số 08-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới, trong đó tiếp tục nêu rõ một trong những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước là đào tạo, bồi dưỡng để hình thành và phát triển được đội ngũ chuyên gia pháp luật và luật sư am hiểu luật pháp quốc tế, giỏi ngoại ngữ, có đủ khả năng tham gia tranh tụng quốc tế; Chỉ thị số 33-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động luật sư, trong đó, nêu những chủ trương, giải pháp nhằm nâng cao vị trí, vai trò của luật sư, bảo đảm cơ chế để luật sư thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm, kiện toàn tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư, đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với tổ chức, hoạt động luật sư, một lần nữa khẳng định chủ trương xây dựng và phát triển đội ngũ luật sư theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đó là, xây dựng và phát triển đội ngũ luật sư đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng, vững vàng về bản lĩnh chính trị, trong sáng về đạo đức nghề nghiệp, bảo đảm ngày càng có nhiều luật sư có trình độ ngang tầm với các luật sư trong khu vực và quốc tế; Quyết định số 123/QĐ-TTg ngày 18 tháng 01 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển đội ngũ luật sư phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế ([3]).

Tất cả những hoạt động vừa nêu ở trên đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước trong việc nâng cao chất lượng và vị thế của đội ngũ luật sư, nghề luật sư trong bối cảnh đất nước đang có những chuyển biến tích cực, hòa nhập ngày càng sâu rộng vào sân chơi chung của thế giới. Chính sự quan tâm chỉ đạo này đã tạo điều kiện vô cùng thuận lợi để luật sư và nghề luật sư có cơ hội phát triển hết sức to lớn.

Thuận lợi tiếp theo ảnh hưởng đến sự phát triển của đội ngũ luật sư và nghề luật sư là sự phát triển vững chắc của nền kinh tế, cùng với chất lượng cuộc sống và ý thức thượng tôn pháp luật của người dân đang ngày càng được cải thiện. Trong giai đoạn 2011-2014, chỉ số GDP của Việt Nam tăng trung bình khoảng 7,26%/năm, đến năm 2015, tốc độ tăng trưởng GDP  tăng 6,68% so với năm 2014, cao hơn mục tiêu 6,2% đề ra và cao hơn mức tăng của các năm từ 2011-2014([4]) , sáu tháng đầu năm 2016, tốc độ tăng trưởng GDP ước tính tăng 5,52% so với cùng kỳ năm trước ([5]); chỉ số phát triển con người (HDI) đạt ở mức trung bình, đứng thứ 130 trên thế giới vào năm 2011 và vươn lên thứ 116 vào năm 2014 ([6]), cùng với đó là tỷ lệ gia tăng của các doanh nghiệp dao động khoảng 120 – 130%/năm . Với những thông số trên, các chuyên gia nhận định tốc độ phát triển của đội ngũ luật sư dao động trung bình khoảng 110%/năm, tính đến 2020, với việc phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 7 – 8%/năm, chỉ số phát triển con người đạt nhóm trung bình cao, lên được 25 – 30 bậc trong xếp hạng của thế giới, cùng với tỷ lệ gia tăng về số lượng của doanh nghiệp duy trì ở mức 120% – 130%/năm thì tính theo cơ học đến năm 2020 số lượng luật sư sẽ phát triển tới con số là hơn 18.000 luật sư ([7]). Chính những điều kiện hết sức thuận lợi này đã góp phần tác động tích cực giúp cho đội ngũ luật sư và nghề luật sư phát triển mạnh mẽ, đạt được những kết quả đáng ghi nhận.

Những kết quả đạt được

Trước sự quan tâm to lớn của Đảng và Nhà nước, luật sư và hoạt động nghề luật sư ở nước ta đang có sự biến chuyển to lớn theo hướng tích cực, cả về số lượng, chất lượng, quy mô dịch vụ pháp lý, cũng như những đóng góp cho sự phát triển chung của xã hội.

Theo thống kê của Liên Đoàn Luật Sư Việt Nam, kể từ ngày 17 tháng 7 năm 2013, Đoàn luật sư tỉnh Lai Châu chính thức được thành lập nâng tổng số Đoàn luật sư trong cả nước lên 63 Đoàn luật sư/63 tỉnh, thành phố trược Trung ương. Tính đến ngày 31/03/2015, số lượng luật sư cả nước là 9436 luật sư và gần 3500 người tập sự hành nghề hoạt đông trong hơn 3000 tổ chức hành nghề luật sư ([8]). Theo một con số thống kê chưa chính thức, tính đến sáu tháng đầu năm 2016, sô lượng luật sư cả nước gần đạt đến con số 10.000 luật sư.

Cùng với sự phát triển về số lượng, chất lượng đội ngũ luật sư ở nước ta đã và đang từng bước nâng cao, bước đầu đáp ứng yêu cầu chuyên nghiệp hóa đội ngũ luật sư Việt Nam. Số lượng luật sư có trình độ cử nhân luật trở lên chiếm 99,6%, số lượng luật sư đã qua đào tạo nghề chiếm hơn 85% tổng số luật sư của cả nước, số luật sư có trình trên đại học chiếm hơn 7,5% tổng số luật sư. Số lượng vụ việc, khách hàng của luật sư nhiều hơn, đa dạng hơn; phạm vi hoạt động hành nghề của luật sư ngày càng được mở rộng, tỷ lệ khách hàng ở ngoài nước có xu hướng tăng nhanh ([9]).

Với số lượng và chất lượng không ngừng được cải thiện, hoạt động nghề nghiệp của các luật sư đã đáp ứng kịp thời nhu cầu dịch vụ pháp lý ngày càng cao của xã hội, phục vụ tích cực cho công cuộc cải cách tư pháp, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi và tin cậy cho các hoạt động đầu tư, kinh doanh, thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Theo số liệu thống kê 6 năm trong giai đoạn 2009 – 2015, đội ngũ luật sư đã tham gia hơn 77 ngàn vụ án hình sự, 65 ngàn vụ việc về dân sự, 5 ngàn vụ án về kinh tế, 5 ngàn vụ án về hành chính. Trong lĩnh vực tư vấn pháp luật đội ngũ luật sư đã tham gia hơn 272 ngàn vụ việc, và hơn 89 ngàn vụ việc dịch vụ pháp lý khác. Trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý miễn phí, đội ngũ luật sư đã tham gia gần 38 ngàn vụ việc ([10]). Ngoài các lĩnh vực truyền thống như tranh tụng hình sự, dân sự, hành chính , lao động, hôn nhân gia đình, các luật sư đã mở rộng và phát triển tư vấn trong các lĩnh vực kinh tế, đầu tư, thương mại quốc tế.

Một số tổ chức luật sư hàng đầu đã tham gia tư vấn những hợp đồng thương mại, dự án đầu tư lớn mang tầm cỡ quốc gia như công ty luật VILAF tư vấn dự án lọc dầu Dung Quất, dự án lọc dầu Nghi Sơn, Dự án điện Nghi Sơn, Dự án điện Vĩnh Tân 1, Công ty luật YKVN tư vấn các hợp đồng mua máy bay Boeing, dự án điện hạt nhân Ninh Thuận… đạt kết quả tốt tạo được danh tiếng trên thị trường dịch vụ pháp lý trong khu vực và quốc tế, có tên trong bảng xếp hạng các công ty luật đang hoạt động tại Việt Nam của những tạp chí chuyên ngành như  International Financial Lawreview và Asia-Pacific Legal. Hoạt động luật sư ngoài bảo vệ công lý, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, còn đóng góp không nhỏ vào phát triển kinh tế, xã hội.

Những con số thống kê trên đã phần nào phản ánh những trưởng thành, nỗ lực của lực lượng luật sư Việt Nam trong những năm qua, đặc biệt sau khi luật luật sư được ban hành. Thông qua việc hành nghề của mình, các luật sư đã bảo vệ quyền lợi cho các bị can, bị cáo, các đương sự khác trong các vụ án hình sự, dân sự, hành chính…, đồng thời giúp cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện những thiếu sót, làm rõ sự thật khách quan, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Trong lĩnh vực tư vấn pháp luật, hoạt động của các luật sư đã góp phần tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, lành mạnh theo đúng pháp luật, đồng thời hỗ trợ tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển thị trường dịch vụ, giải quyết việc làm. Bên cạnh đó, các luật sư còn tích cực tham gia trợ giúp pháp lý miễn phí cho người dân, người nghèo, các đối tượng chính sách, cũng như tham gia các hoạt động tình nguyện nhằm tuyên truyền pháp luật đến nhân dân, thể hiện trách nhiệm với xã hội.([11])

Tuy đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, nhưng thực trạng của đội ngũ luật sư và nghề luật sư ở nước ta vẫn còn rất nhiều bất cập, đòi hỏi sự phối hợp hành động của các cấp các ngành và bản thân mỗi luật sư.

  • Những hạn chế của đội ngũ luật sư và nghề luật sư ở nước ta hiện nay và nguyên nhân của những hạn chế này
    • Những hạn chế của đội ngũ luật sư và nghề luật sư ở nước ta hiện nay

Thứ nhất, số lượng luật sư hiện có so với dân số còn rất thấp và có sự phát triển mất cân đối lớn giữa khu vực thành thị – nông thôn, miền núi – đồng bằng, trung du và vùng sâu, vùng xa có điều kiện kinh tế khó khăn.

Hiện nay tỷ lệ luật sư nước ta mới ở mức trung bình là khoảng 1 luật sư/10.000 người dân, trong khi đó tỷ lệ này ở Thái Lan là 1/1.526, Singapore là 1/1.000, Nhật Bản là 1/4.546, Pháp là 1/1.000, Mỹ là 1/250. Sự phát triển về số lượng luật sư chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Trong tổng số luật sư của cả nước thì riêng Đoàn luật sư TP. Hà Nội hiện có 2476 luật sư, Đoàn luật sư TP. Hồ Chí Minh có 3756 luật sư, chiếm hơn 2/3 tổng số luật sư của cả nước. Ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, số lượng luật sư không đủ đáp ứng nhu cầu dịch vụ pháp lý của nhân dân, ngay cả đối với các vụ án bắt buộc phải có luật sư tham gia cũng rất khó khăn. Nhiều Đoàn luật sư có số lượng luật sư không quá 20 người như Đoàn luật sư tỉnh Điện Biên, Cao Bằng, Hậu Giang, Hòa Bình, Lào Cai, Quảng Trị, Trà Vinh…; đặc biệt một số Đoàn luật sư chỉ có dưới 10 luật sư như: Bắc Kạn, Hà Giang, Kon Tum, Sơn La, Yên Bái, Lai Châu… Trong khi đó, số dân các tỉnh đều xấp xỉ 1.000.000 người; tính tỷ lệ luật sư/số dân chỉ khoảng 01 luật sư/10.000 dân ([12]).

Do đó, theo nhận định của các chuyên gia thì số lượng luật sư ở nước ta hiện nay chưa đủ để đáp ứng nhu cầu về dịch vụ pháp lý ngày càng tăng của cơ quan, tổ chức, cá nhân, ngay cả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Thứ hai, chất lượng của đội ngũ luật sư còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp; phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế.

Trong lĩnh vực tham gia tố tụng, các luật sư còn thiếu kinh nghiệm, kỹ năng hành nghề cũng như việc tuân thủ quy tắc đạo đức nghề nghiệp và kỷ luật hành nghề luật sư còn chưa cao đã làm ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vụ việc nói chung cũng như chất lượng tranh tụng nói riêng. Trong lĩnh vực tư vấn pháp luật, số lượng luật sư chuyên sâu trong các lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại (sở hữu trí tuệ, tài chính ngân hàng, hàng không, hàng hải, bảo hiểm, thương mại quốc tế…) còn rất ít, chiếm tỷ lệ 1,2%, trong đó, chỉ khoảng 20 luật sư có trình độ ngang tầm với luật sư trong khu vực. Thời gian qua, phần lớn các vụ tranh chấp thương mại quốc tế, các cơ quan, tổ chức của Việt Nam vẫn phải thuê luật sư nước ngoài làm đại diện, tư vấn và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.([13]).

Như vậy, chúng ta nhận thấy rằng, tuy số lượng luật sư trong thời gian qua đã có sự tăng trưởng đáng kể, tuy nhiên, vấn đề chất lượng vẫn còn rất nhiều hạn chế, yếu kém. Sự yếu kém này trải đều từ những lĩnh vực “truyền thống” của các luật sư Việt Nam là tranh tụng cho đến các lĩnh vực mới mang tính hội nhập như sở hữu trí tuệ, thương mại quốc tế… Điều này là hết sức nguy hại trong bối cảnh đất nước ta đang đẩy mạnh cải cách tư pháp, nâng cao ý thức thượng tôn pháp luật của người dân và hội nhập ngày càng sâu rộng vào sân chơi chung của thế giới. Bên cạnh các yếu kém về chuyên môn, chúng ta còn nhận thấy những yếu kém về đạo đức và bản lĩnh nghề nghiệp của không ít các luật sư, khi nhiều người đã vì đồng tiền mà làm các việc trái pháp luật và đạo đức, xâm hại đến quyền lợi hợp pháp của người dân, thậm chí là chống phá chính quyền nhân dân như Lê Công Định, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân… Điều này không chỉ để lại một vết nhơ trong sự nghiệp của các luật sư kể trên, mà còn làm suy giảm lòng tin của người dân vào sự cao quý của luật sư và nghề luật sư.

Thứ ba, vị trí và vai trò của luật sư trong xã hội và trong tham gia tố tụng còn hạn chế, chưa thực sự được nhìn nhận đúng và đầy đủ theo tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nhận thức của xã hội về vị trí, vai trò của luật sư trong việc tư vấn, giúp đỡ về mặt pháp lý chưa toàn diện, sâu sắc; nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của luật sư còn ít. Thực tiễn thời gian qua đã cho thấy, do chưa nhận thức đúng đắn về vai trò hỗ trợ pháp lý của luật sư nên các doanh nghiệp đã gặp nhiều bất lợi, thiệt hại trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt là khi tham gia các giao dịch thương mại quốc tế.([14])

Một minh chứng rõ nét nhất cho nhận định này là việc vị trí và vai trò của luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự chưa được nhìn nhận đúng mức, thậm chí là xem nhẹ. Điều này được thể hiện cụ thể trên hai phương diện là vai trò của luật sư trong các giai đoạn tố tụng và tính thực chất của hoạt động tranh luận tại phiên tòa hình sự. Theo điều 58 của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành, luật sư có thể tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can, thậm chí còn sớm hơn là từ khi có quyết định tạm giữ, nhưng trên thực tế, tỉ lệ các vụ án luật sư được tham gia từ giai đoạn điều tra còn quá thấp so với tổng số vụ án hình sự bị khởi tố, trong đó có cả những vụ án theo quy định của pháp luật sự tham gia của luật sư là bắt buộc theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng. Hoạt động tranh tụng tại phiên tòa hình sự là phương diện bất cập lớn thứ hai cần được điều chỉnh, bởi rất nhiều các phiên tòa không hề có sự tranh tụng, mà chủ yếu chỉ có luật sư trình bày quan điểm, còn đại diện Viện kiểm sát nhiều khi chỉ bảo lưu quan điểm của mình, không trình bày gì thêm, khiến cho hoạt động tranh tụng không có giá trị trên thực tế. Với sự ra đời của Hiến pháp 2013, hoạt động tranh tụng tại phiên tòa đã được khẳng định cụ thể hơn, do đó trong thời gian sắp tới, hoạt động tranh tụng sẽ diễn ra một cách thực chất hơn.

Thứ tư, hoạt động hành nghề của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư chưa mang tính chuyên nghiệp, số luật sư hành nghề kiêm nhiệm các công việc khác vẫn còn khá cao, chiếm trên 20%, số tổ chức hành nghề luật sư có quy mô nhỏ, cơ sở vật chất thiếu thốn, quản lý điều hành kém còn chiếm đa số (chiếm hơn 75%), số tổ chức hành nghề luật sư chuyên sâu trong các lĩnh vực, nhất là trong kinh doanh, thương mại còn rất ít.

Bên cạnh đó, đối tượng khách hàng của các luật sư, tổ chức hành nghề luật sư vẫn chủ yếu tập trung vào khách hàng truyền thống là cá nhân, chiếm 85%. Tỷ lệ khách hàng là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức còn ở mức độ khiêm tốn, khoảng 15%. Trong đó, số lượng vụ việc luật sư tham gia tư vấn pháp luật, giải quyết tranh chấp liên quan đến thương mại quốc tế chiếm tỷ lệ rất thấp, 0,4%.

Thứ năm, vai trò tự quản của các Đoàn luật sư trong việc quản lý luật sư và hành nghề luật sư còn bộc lộ những hạn chế. Liên đoàn Luật sư Việt Nam mới được thành lập, tuy đã triển khai có kết quả nhiều hoạt động, bước đầu phát huy được vai trò tự quản, tuy nhiên vẫn còn trong giai đoạn xây dựng, hoàn thiện tổ chức và phương thức hoạt động.

Ngoài ra, công tác quản lý nhà nước về luật sư còn bất cập, cơ chế quản lý có phần còn lỏng lẻo chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Sự quan tâm lãnh đạo của cấp ủy đảng đối với tổ chức và hoạt động của tổ chức xã hội – nghề nghiệp luật sư còn có mặt hạn chế. ([15])

Các hạn chế, yêu kém vừa nêu ở trên là tổng hòa của các yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau, xuất phát từ hạn chế của hệ thống quản lý nhà nước, hệ thống pháp luật, tâm lý của người dân, đặc điểm của nền kinh tế, cho đến những hạn chế của chính mỗi luật sư

  • Nguyên nhân của những hạn chế
    • Nguyên nhân khách quan

Nguyên nhân đầu tiên phải kể đến xuất phát từ bản chất của nghề luật sư. Theo đó, luật sư là một nghề tự do, chịu sự chi phối của quy luật thị trường (quy luật cung cầu…), hay nói cụ thể là phụ thuộc vào nhu cầu của xã hội. Trong khi đó, Việt Nam là một quốc gia có mức thu nhập bình quân đầu người thuộc nhóm trung bình thấp của thế giới, kinh tế nông nghiệp chiếm phần lớn tỷ trọng của nền kinh tế, các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ tuy đang dần được khởi sắc nhưng quy mô vẫn còn đa phần nhỏ lẻ, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế khó khăn. Bên cạnh đó, tâm lý cả nể, ngại kiện tụng của người Việt cũng tác động rất lớn tới nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của luật sư; chính những nguyên nhân trên khiến cho thị trường dịch vụ pháp lý của luật sư tuy đang dần được mở rộng nhưng vẫn còn khá nhỏ lẻ.

Nguyên nhân thứ hai xuất phát từ những bất cập của hệ thống pháp luật của nước ta, bao gồm chủ yếu là luật luật sư cùng các quy định có liên quan và pháp luật về tố tụng. Đối với luật luật sư và các quy định có liên quan, một số quy định về tiêu chuẩn, điều kiện trở thành luật sư chưa chặt chẽ, rõ ràng và có phần còn dễ dãi như quy định về việc miễn đào tạo nghề, miễn, giảm thời gian tập sự, chế độ tập sự hành nghề. Nội dung, chương trình đào tạo nghề luật sư chưa gắn kết với việc đào tạo các chức danh tư pháp khác nên chưa tạo được sự liên thông giữa các chức danh luật sư, thẩm phán, kiểm sát viên theo tinh thần cải cách tư pháp. Thủ tục để luật sư tham gia tố tụng như việc cấp Giấy chứng nhận tham gia tố tụng còn rườm rà, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư hành nghề. Quy định về điều kiện thành lập tổ chức hành nghề luật sư còn đơn giản nên dẫn đến các tổ chức hành nghề luật sư phát triển nhanh về số lượng, nhưng đa phần là manh mún và nhỏ lẻ. Đối với pháp luật về tố tụng còn thiếu các quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của luật sư, trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc tạo điều kiện cho luật sư tham gia tố tụng nên chưa bảo đảm cho luật sư được tham gia đầy đủ, thuận lợi vào các giai đoạn tố tụng một cách thực chất. Hơn nữa, một số cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng chưa nghiêm trong việc tổ chức thực thi pháp luật và tự mình thực thi pháp luật.([16])

Nguyên nhân thứ ba xuất phát từ chất lượng đào tạo cử nhân luật, cũng như các chức danh tư pháp ở Việt Nam còn nhiều bất cập, tiêu biểu là việc chương trình đào tạo mang nặng tính hàn lâm, thiếu các kiến thức thực tế, các buổi thực hành; đặc biệt là các kỹ năng về tranh tụng, tư vấn. Ngay cả những giáo viên đứng lớp nhiều khi cũng không được đào tạo bài bản, chủ yếu đúc rút các kinh nghiệm của bản thân và của các đồng nghiệp nên kiến thức truyền giảng không mang tính hệ thống; bên cạnh đó, hoạt động cập nhật kiến thức mới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội chưa được chú trọng nên các bài giảng thiếu tính thực tế xã hội.

Nguyên nhân thứ tư xuất phát từ công tác theo dõi, giám sát việc tuân thủ pháp luật, tuân theo quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư chưa được thực hiện hiệu quả; việc phát hiện, xử lý vi phạm còn chưa kịp thời, chưa nghiêm minh. Việc bồi dưỡng, giáo dục về đạo đức nghề nghiệp chưa được thực hiện thường xuyên. Công tác giáo dục về chính trị tư tưởng cho đội ngũ luật sư hầu như chưa được quan tâm.

Nguyên nhân thứ năm xuất phát từ việc nghề luật sư ở Việt Nam mới chỉ thật sự hình thành và phát triển trong khoảng gần ba thập kỷ nay, do đó, kinh nghiệm hành nghề còn rất nhiều hạn chế so với các đồng nghiệp ở các quốc gia khác.([17])

  • Nguyên nhân chủ quan

Nguyên nhân đầu tiên phải kể đến là những hạn chế, yếu kém của chính đội ngũ luật sư. Sự hạn chế này xuất phát từ việc các luật sư ở nước ta còn yếu kỹ năng hành nghề do thiếu các cơ hội cọ xát ngay từ thời gian được đào tạo trên ghế nhà trường, bên cạnh đó, nhiều luật sư chưa chủ động, tích cực trong việc nâng cao kiến thức chuyên môn, cập nhật các kiến thức xã hội. Ngoài ra, sự thiếu bản lĩnh chính trị, đạo đức trong quá trình hành nghề còn khiến các luật sư dễ bị sa ngã vì đồng tiền, vì những tác động của các thế lực chống phá nhà nước, dẫn đến vi phạm pháp luật.

Nguyên nhân thứ hai là năng lực quản lý của nhiều tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư còn nhiều bất cập, cụ thể, hoạt động của các đoàn luật sư ở các địa phương còn mang tính “tự trị” cao, thiếu tính phối hợp, liên lạc với các đoàn luật sư khác cũng như liên đoàn luật sư Việt Nam. Trong khi đó, Liên đoàn luật sư Việt Nam chưa xây dựng được các Quy chế phối hợp về quản lý hành nghề luật sư giữa các cơ quan quản lý nhà nước về hành nghề luật sư với cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan khác có liên quan, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội và các Đoàn luật sư ([18]).

Nguyên nhân thứ ba xuất phát từ việc các cấp ủy Đảng, các cơ quan nhà nước còn chưa phát huy hết vai trò của mình trong công tác quản lý hoạt động của các luật sư và hành nghề luật sư.

  1. TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT SƯ VÀ NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh cải cách tư pháp thì vị trí, vai trò của luật sư và nghề luật sư trong xã hội ngày càng được đề cao. Trong bối cảnh đó, luật sư và nghề luật sư tại Việt Nam đang đứng trước những triển vọng to lớn về vai trò, tầm vóc và sự phát triển.

  • Nhu cầu dịch vụ pháp lý ngày càng gia tăng

Sự tăng trưởng của nền kinh tế, sự phát triển mạnh mẽ các lĩnh vực của đời sống xã hội trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế cùng với nhận thức ngày càng cao của người dân, của các nhà doanh nghiệp về vai trò của luật sư đã làm gia tăng nhanh chóng nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý, mở rộng đáng kể phạm vi hoạt động hành nghề luật sư. Điều này cũng đồng nghĩa với việc đội ngũ luật sư Việt Nam có cơ hội phát triển nhanh và mạnh, đặt đội ngũ luật sư Việt Nam trước cơ hội tham gia và khẳng định vai trò trong việc xây dựng và phát triển nghề nghiệp luật sư Việt Nam. Nếu có những biện pháp và giải pháp phù hợp, đội ngũ luật sư Việt Nam sẽ tranh thủ tốt được những cơ hội để góp phần đẩy nhanh sự phát triển về số lượng và chất lượng hành nghề luật sư, đặc biệt là chất lượng hành nghề của luật sư trong tư vấn và tranh tụng thương mại quốc tế.

Nhu cầu dịch vụ pháp lý trong hoạt động kinh doanh, thương mại chỉ mới hình thành vào đầu thập niên 1990, chủ yếu từ các nhà đầu tư, thương nhân nước ngoài, và từ một số ít doanh nghiệp trong nước.

Cùng với quá trình hội nhập, nhu cầu về dịch vụ pháp lý ngày càng tăng về số lượng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng. Một mặt, nhu cầu tăng do có sự gia tăng về số lượng và mức độ phức tạp trong các giao dịch của doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Mặt khác, nhu cầu cũng đến từ nhiều doanh nghiệp trong nước, do có sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp trong nước, và sự chuyển biến rõ rệt trong nhận thức chung về vai trò của luật sư và sự cần thiết của dịch vụ pháp lý trong hoạt động kinh doanh.

Ở cấp độ quốc gia, luật sư có thể đóng góp vào quá trình đàm phán các hiệp định, điều ước quốc tế, tham gia vào các vụ tranh tụng quốc tế với chủ thể là các cơ quan nhà nước, các hiệp hội. Ở cấp độ doanh nghiệp, nhu cầu về hoạt động của luật sư rất đa dạng, từ các dịch vụ tư vấn pháp lý cho giao dịch quan trọng, phức tạp của doanh nghiệp, đến các hoạt động tranh tụng tại tòa án hoặc trọng tài quốc tế… Chính sự gia tăng nhu cầu của thị trường là thuận lợi cơ bản cho sự phát triển của hoạt động luật sư và thị trường dịch vụ pháp lý.

Hiện nay, với việc đời sống kinh tế đất nước phát triển ổn định, hoạt động kinh doanh thương mại trong và ngoài nước ngày càng phát triển, thu nhập trung bình ngày một tăng cao, chất lượng cuộc sống ngày càng được cải thiện, ý thức tuân thủ pháp luật và cùng với đó là nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của người dân và các doanh nghiệp đang ngày một gia tăng; theo báo cáo thống kê, năm 2008, có 46,3% doanh nghiệp có bộ phận phụ trách về pháp lý, trong đó, chủ yếu là các tập đoàn kinh tế lớn; khoảng 47,27% doanh nghiệp từng sử dụng dịch vụ pháp lý của luật sư; đến năm 2010, tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng dịch vụ luật sư đã tăng lên 67,5% (tăng 1,43 lần so với năm 2008); năm 2015, tỷ lệ này là 85% và dự báo đến năm 2020 là trên 90% ([19]). Đây là những tín hiệu hết sức khả quan cho đội ngũ luật sư nước ta về một thị trường dịch vụ pháp lý đang ngày một lớn mạnh, mở ra những cơ hội phát triển chưa từng có.

Cải cách tư pháp thúc đẩy sự phát triển của luật sư và nghề luật sư

Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Đảng đã xác định vị trí, vai trò quan trọng của luật sư trong việc mở rộng tranh tụng. Những nội dung cải cách tư pháp đang được triển khai một cách tích cực cả về chiều rộng và chiều sâu là điều kiện thuận lợi để luật sư được tham gia vào tiến trình cải cách tư pháp; tham gia thực chất hơn vào quá trình giải quyết các vụ án, đặc biệt là trong việc tranh tụng tại phiên toà. Trong bài Phát biểu quan trọng tại Đại hội luật sư toàn quốc lần thứ hai năm 2015, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng đã nhấn mạnh “mỗi luật sư cần phải tự giác rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, gương mẫu tuân thủ pháp luật, nỗ lực học tập, nâng cao cao bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp để đủ năng lực tham gia vào các tổ chức quốc tế và tham gia giải quyết các vụ tranh chấp quốc tế”. Nhiều luật sư đã thể hiện vai trò xuất sắc trên diễn đàn “pháp đình”, những nhân tố này cần phải được phát huy, nhân rộng, mang thêm niềm tin đến cho nhân dân vào công lý và sự khách quan, minh bạch trong quá trình giải quyết các vụ án. Cải cách tư pháp càng đi vào chiều sâu, vai trò của luật sư càng quan trọng và càng được chú ý, đây là cơ hội lớn để luật sư và nghề luật sư tại Việt Nam thể hiện sự tham gia như một chủ thể tích cực vào tiến trình cải cách pháp luật, cải cách tư pháp ở Việt Nam.

  • Hội nhập quốc tế sâu rộng và những cơ hội chưa từng có

Trong những năm gần đây Việt Nam đang tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Chúng ta đã tham gia nhiều điều ước quốc tế, gia nhập nhiều tổ chức khu vực và toàn cầu, mà nổi bật là việc gia nhập WTO vào năm 2007. Quá trình hội nhập vẫn sẽ được tiếp tục trong thời gian tới, khi mà Việt Nam đang tích cực đàm phán 2 hiệp định thương mại quan trọng: Hiệp định đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (VN-EU FTA).  Quy mô và mức độ hội nhập thể hiện không chỉ qua các số liệu ngày càng tăng trong quan hệ thương mại, đầu tư của Việt Nam với các nước, mà còn qua sự đan xen trong hoạt động giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài. Trong hoạt động thương mại, các doanh nghiệp FDI đóng vai trò quan trọng, chiếm 42,3% kim ngạch xuất khẩu năm 2009, và 37% kim ngạch xuất khẩu.

Nhà đầu tư nước ngoài đã có mặt trong nhiều lĩnh vực: từ sản xuất công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng đến các ngành dịch vụ quan trọng như: ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, viễn thông… Doanh nghiệp trong nước đang đẩy mạnh phát triển thị trường nước ngoài thông qua xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ. Từ một nước trước đây chỉ tiếp nhận đầu tư, đến nay một số doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài.

Có thể nói, tiến trình hội nhập quốc tế đang đặt luật sư và nghề luật sư tại Việt Nam trước cơ hội lớn được giao lưu, hội nhập với các tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư trên thế giới, khẳng định vai trò và tiếng nói của các luật sư Việt Nam, tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật sư Việt Nam trên Diễn đàn quốc tế, góp phần quảng bá hình ảnh của đất nước Việt Nam nói chung, công cuộc cải cách pháp luật, cải cách tư pháp nói riêng với các nước trên thế giới. Thông qua các hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế, luật sư Việt Nam có cơ hội được chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm về hoạt động hành nghề luật sư, đặc biệt là kinh nghiệm hành nghề luật sư của những quốc gia có nền tư pháp và hệ thống pháp luật phát triển.

  • Triển vọng phát triển từ sự đổi mới thể chế, tổ chức và hoạt động của Luật sư và nghề luật sư

Đảng và Nhà nước đã và đang hết sức quan tâm đến việc đổi mới về thể chế, tổ chức và hoạt động của luật sư. Luật Luật sư ban hành năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành tạo thành khuôn khổ pháp lý rõ ràng, thuận lợi cho hoạt động của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, phát huy vai trò tự quản của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư. Các nghị quyết của Đảng về cải cách pháp luật, cải cách tư pháp đều nhấn mạnh đến cải cách các chế định bổ trợ tư pháp, đổi mới và tạo điều kiện cho tổ chức và hoạt động luật sư. Đặc biệt, trước thềm Đại hội đại biểu luật sư toàn quốc lần thứ nhất, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển tổ chức và hoạt động của luật sư, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 33-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của luật sư. Đây là những tiền đề quan trọng, đặt luật sư Việt Nam trước cơ hội lớn được phát triển về tổ chức, hoạt động và khẳng định mình trong hệ thống chính trị của đất nước.

Triển vọng phát triển từ sự trưởng thành của chính đội ngũ luật sư

Qua hơn 20 năm đổi mới và hội nhập, đội ngũ luật sư trong nước đã dần trưởng thành trong hoạt động hành nghề, cung cấp các dịch vụ pháp lý đa dạng cho khách hàng trong nước và nước ngoài trong các giao dịch ngày càng phức tạp. Quy mô cung cấp dịch vụ pháp lý cho doanh nghiệp đã tăng lên nhanh chóng, nhất là ở Hà Nội và TP.HCM. Một bộ phận luật sư và tổ chức hành nghề, tuy chưa nhiều, đã bước đầu hoạt động chuyên nghiệp, tập trung vào các lĩnh vực chuyên sâu như đầu tư, mua bán – tái cấu trúc doanh nghiệp, thị trường công cụ tài chính, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh… Trong các giao dịch quốc tế, luật sư trong nước cũng tích lũy được kinh nghiệm nhờ thường xuyên tiếp xúc với nhiều thông tin về hành nghề quốc tế, nhờ quá trình tự đào tạo trong hành nghề, được đào tạo ở nước ngoài, cũng như qua việc “cọ xát” với các đồng nghiệp nước ngoài. Ngày càng ít đi sự khác biệt về chất lượng dịch vụ pháp lý giữa các tổ chức luật sư trong nước hoạt động chuyên sâu và các tổ chức luật sư nước ngoài có uy tín. Nhiều lĩnh vực chuyên sâu trong giao dịch quốc tế đang trở thành thế mạnh của một số tổ chức luật sư trong nước. Nếu một số tổ chức luật sư nước ngoài đang thực hiện “nội địa hóa”, qua việc đưa luật sư Việt Nam vào những vị trí chủ chốt, mở rộng thị trường sang doanh nghiệp trong nước, thì một số tổ chức luật sư trong nước đã bắt đầu có xu hướng “quốc tế hóa”, thể hiện qua việc phát triển khách hàng nước ngoài, phát triển thị trường ra nước ngoài, tuyển dụng luật sư nước ngoài …. Sự trưởng thành bước đầu này tạo ra cơ sở cho sự phát triển và lớn mạnh của đội ngũ luật sư Việt Nam trong hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế.

CHƯƠNG III – THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT SƯ VÀ NGHỀ LUẬT SƯ TẠI TỈNH NGHỆ AN

  1. THỰC TRẠNG CỦA LUẬT SƯ VÀ NGHỀ LUẬT SƯ TẠI TỈNH NGHỆ AN
    • Tổng quan về Luật sư và Nghề Luật sư tại tỉnh Nghệ An

Cùng với sự ra đời của Luật sư và nghề luật sư trên cả nước, hoạt động của luật sư và nghề luật sư tại tỉnh Nghệ An được đánh giá là ra đời và phát triển sớm so với nhiều tỉnh, thành khác trên cả nước. Theo đó, Đoàn luật sư tỉnh Nghệ An, tiền thân là Đoàn luật sư Nghệ Tĩnh, được thành lập theo Quyết định số 1510/QĐ-UB ngày 18/07/1989. Thời điểm mới thành lập, đoàn luật sư tỉnh Nghệ An bao gồm 15 luật sư. Ngày 23/1/1992, UBND tỉnh Nghệ An ban hành Quyết định 186/QĐ-UB, thành lập Đoàn luật sư Nghệ An, một trong những đoàn luật sư ra đời sớm nhất trên cả nước ([20]).

  • Thực trạng của Luật sư và nghề Luật sư tại tỉnh Nghệ An

Những năm gần đây, tỉnh Nghệ An không ngừng phát triển, trở thành một trong những trọng điểm kinh tế, văn hóa của khu vực Bắc miền Trung. Cùng với sự phát triển của tỉnh, hoạt động của luật sư trên địa bàn tỉnh Nghệ An có những bước tiến nhất định, đóng góp tích cực cho sự phát triển chung của tỉnh, khẳng định ngày càng rõ hơn vị trí, vai trò của luật sư trong đời sống xã hội.

Trải qua 27 năm xây dựng và trưởng thành, hiện tại, trên địa bàn tỉnh Nghệ An có 29 tổ chức hành nghề luật sư với 26 Văn phòng luật sư và 03 Công ty luật. Tổng số luật sư trên địa bàn tỉnh là hơn 150 luật sư, đăng ký tập sự hành nghề luật sư 38 người. Trong năm 2014, các tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh đã thực hiện được 462 vụ việc, thu được 588.798.000 đồng, nộp ngân sách nhà nước 37.304.000 đồng. ([21])

Số lượng luật sư tại Nghệ An có xu hướng ngày càng tăng lên, chất lượng luật sư từng bước được nâng cao; nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trên địa bàn tỉnh gia tăng nhanh chóng, số lượng vụ việc, khách hàng của luật sư nhiều hơn, đa dạng hơn, phạm vi hoạt động hành nghề của luật sư ngày càng mở rộng. Điều đó chứng tỏ khách hàng ngày càng tin tưởng vào uy tín, khả năng của các tổ chức hành nghề luật sư, giúp cho các tổ chức hành nghề luật sư có thu nhập ổn định, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với nhà nước.

Tuy nhiên, đội ngũ luật sư của tỉnh Nghệ An hiện nay còn khá mỏng, luật sư chuyên sâu trong các lĩnh vực pháp luật chưa nhiều, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tỉnh Nghệ An còn thiếu đội ngũ luật sư giỏi, thông thạo pháp luật quốc tế và ngoại ngữ để tư vấn cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong đàm phán kinh doanh, trong giải quyết tranh chấp thương mại.

Về cơ sở vật chất của các tổ chức hành nghề luật sư tại Nghệ An, phần lớn các tổ chức hành nghề luật sư tập trung chủ yếu tại Thành phố Vinh, thủ phủ của tỉnh Nghệ An. Trụ sở làm việc của các tổ chức hành nghề luật sư chủ yếu được đặt tại nhà riêng của luật sư hoặc thuê nhà riêng của người dân để làm trụ sở; các thiết bị làm việc khác như: máy vi tính, máy in, bàn ghế, bảng hiệu được các tổ chức hành nghề luật sư quan tâm, mua sắm đầy đủ, thuận lợi cho công việc.

Nhìn chung, thời gian qua các tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh chủ yếu hoạt động theo hình thức văn phòng luật sư do một luật sư làm Trưởng Văn phòng hoặc theo hình thức công ty luật đều có bộ máy tổ chức gọn, ít nhân sự. Các tổ chức hành nghề luật sư tuy phát triển nhiều nhưng manh mún, nhỏ lẻ, thiếu chuyên sâu, hiện chưa có tổ chức hành nghề đủ mạnh để cạnh tranh với các hãng luật nước ngoài. Thực tiễn cho thấy, phần lớn các vụ tranh chấp thương mại quốc tế, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp vẫn phải thuê luật sư nước ngoài làm đại diện, tư vấn và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Nguyên nhân của thực trạng trên có thể kể đến là do điều kiện kinh tế xã hội của tỉnh đang phát triển, mức thu nhập của người dân còn thấp, nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý do luật sư cung cấp chưa cao, tác động đến việc phát triển số lượng luật sư trong thời gian qua. Bên cạnh đó, chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo cử nhân luật, đào tạo nghề luật sư chưa thực sự phù hợp với thực tiễn. Chất lượng tập sự hành nghề chưa cao, thời gian tập sự hành nghề luật sư cũng chưa được chú trọng, phần lớn người tập sự chỉ được học việc ở các Văn phòng luật sư, cung cấp dịch vụ chủ yếu trong lĩnh vực hình sự, dân sự hoặc kinh tế trong nước. Vì vậy, luật sư ít có cơ hội cọ xát, thực hành nghề nghiệp nói chung và trong lĩnh vực thương mại quốc tế nói riêng. Công tác bồi dưỡng, giáo dục về đạo đức nghề nghiệp, chính trị tư tưởng, ngoại ngữ chuyên ngành, việc cập nhật các kiến thức mới cũng như việc truyền đạt thông tin, trao đổi kinh nghiệm hành nghề chưa được thực hiện thường xuyên.

TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT SƯ VÀ NGHỀ LUẬT SƯ TẠI TỈNH NGHỆ AN

Trong chương trình trọng tâm cải cách tư pháp đến năm 2020, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Nghệ An đã xác định: “Tiếp tục củng cố đội ngũ luật sư, tăng cường số lượng và chất lượng bào chữa, đáp ứng yêu cầu tranh tụng tại phiên toà theo tinh thần cải cách tư pháp, thực hiện cơ chế đảm bảo tốt, kết hợp giữa quản lý Nhà nước về luật sư với vai trò tự quản của đoàn luật sư([22]). Cùng với triển vọng phát triển chung của luật sư và nghề luật sư trên cả nước, Luật sư và nghề luật sư tại Nghệ An cũng đứng trước nhiều cơ hội và phát triển nghề nghiệp.

Thứ nhất, theo Quyết định số 2203/QĐUB của UBND tỉnh Nghệ An về  ban hành kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Nghệ An, mục tiêu phát triển số lượng luật sư và tổ chức hành nghề luật sư từ 50 đến 70 tổ chức hành nghề tại thành phố Vinh và các huyện, thị xã, trong đó có 4 đến 6 tổ chức hành nghề có quy mô đạt từ 10 đến 30 luật sư và 2 đến 3 tổ chức hành nghề chuyên sâu trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài.

Bên cạnh đó, nâng cao chất lượng luật sư, phấn đấu 100% số lượng luật sư hiện có được bồi dưỡng thường xuyên về nghiệp vụ, chuyên môn, kỹ năng hành nghề tại Đoàn Luật sư Nghệ An. Phối hợp với các Trung tâm đào tạo ngoại ngữ mở các khóa đào tạo tiếng Anh chuyên ngành, tiếng Anh nâng cao cho các luật sư, cán bộ pháp chế có khả năng tham gia vào các chương trình, dự án liên doanh với nước ngoài của tỉnh hoặc tham gia tư vấn, tranh tụng những vụ việc có yếu tố nước ngoài mà không cần có phiên dịch. ([23])

Như vậy, với mục tiêu và kế hoạch phát triển mạnh mẽ về số lượng và chất lượng của đội ngũ luật sư, luật sư và nghề luật sư tại Nghệ An đang đứng trước những cơ hội phát triển chưa từng có.

Thứ hai, nhu cầu dịch vụ pháp lý doanh nghệp ngày càng gia tăng

Sự phát triển kinh tế và đầu tư mạnh mẽ vào thị trường Nghệ An đã tạo ra một nền móng và cơ hội vững chắc cho sự phát triển đầy đứa hẹn của luật sư và nghề luật sư trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

Tính đến thời điểm 6/2016, tổng số doanh nghiệp đăng ký hoạt động trên địa bàn tỉnh Nghệ An gần 15.300 doanh nghiệp, đứng đầu khu vực Bắc Trung bộ và thứ 7 cả nước. Doanh nghiệp ở Nghệ An phát triển đa dạng, chiếm tỷ lệ lớn nhất là lĩnh vực thương mại, dịch vụ, xây dựng; công nghiệp khai thác, chế biến. Năm 2015, các doanh nghiệp đóng góp ngân sách hơn 7.400 tỷ đồng, chiếm 60% tổng thu ngân sách của tỉnh. Với lợi thế đó của mình, các doanh nghiệp trên địa bàn Nghệ An ngày càng chú trọng đến tính chất pháp lý của hoạt động doanh nghiệp, đội ngũ luật sư tại Nghệ An có nhiều cơ hội được cung cấp dịch vụ pháp lý đa dạng và sâu rộng hơn cho các đối tượng doanh nghiệp khác nhau.

Như vậy, cùng với những cơ hội và triển vọng phát triển của đội ngũ luật sư và nghề luật sư của cả nước, luật sư và nghề luật sư tại Nghệ An cũng đang đứng trước những cơ hội chưa từng có và đầy hứa hẹn.

 KẾT LUẬN

Qua những phân tích trên đây, chúng ta có thể nhìn nhận rằng luật sư và nghề luật sư tại Việt Nam đã và đang trải qua một thời kỳ phát triển mạnh mẽ về cả số lượng và chất lượng.  Chúng ta một lần nữa có thể khẳng định rằng luật sư là một nghề cao quý, vì những đóng góp to lớn vào sự phát triển chung của xã hội. Đất nước chúng ta đang trong quá trình chuyển mình mạnh mẽ từ một nền kinh tế tiểu nông sang một đất nước có nền kinh tế phát triển theo hướng hiện đại, đồng thời hội nhập ngày càng sâu rộng vào sân chơi chung của thế giới và điều này tạo ra rất nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thử thách cho hoạt động của các luật sư và nghề luật sư ở nước ta. Trước tình hình đó, mỗi luật sư cần tự ý thức nâng cao đạo đức và kiến thức của bản thân, đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm xã hội của mình để có thể nắm bắt cơ hội, khắc phục khó khăn, đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển của đất nước. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước cũng cần phải chung tay để hỗ trợ luật sư và nghề luật sư phát triển. Có như vậy, chúng ta mới có thể hy vọng vào một đội ngũ luật sư đủ mạnh để sánh vai cùng các đồng nghiệp ở các nước trong khu vực và xa hơn là trên thế giới, góp phần xây dựng nhà nước thành công nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

——

([1]) Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam

([2]) Giáo trình Luật sư và nghề luật sư – Học Viện Tư Pháp

([3]) Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020 (ban hành kèm theo quyết định số 1072/QĐ-TTg ngày 5/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ)

([4]) Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế – xã hội Việt Nam năm 2015 – Tổng Cục Thống Kê

([5]) Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế – xã hội Việt Nam 6 tháng đầu năm 2016 – Tổng Cục Thống Kê

(5) Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2015 về tăng trưởng bao trùm

([7]) Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020 (ban hành kèm theo quyết định số 1072/QĐ-TTg ngày 5/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ)

([8]) Báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ I và phương hướng công tác nhiệm kỳ II của Liên đoàn luật sư Việt Nam, ngày 23/04/2015

([9]) Báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ I và phương hướng công tác nhiệm kỳ II của Liên đoàn luật sư Việt Nam, ngày 23/04/2015 & Báo cáo về định hướng sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật luật sư – Bộ Tư pháp ngày 14/12/2011.

([10]) Báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ I và phương hướng công tác nhiệm kỳ II của Liên đoàn luật sư Việt Nam, ngày 23/04/2015

([11]) Báo cáo tổng kết 5 năm thi hành Luật luật sư của Bộ Tư Pháp, ngày 06/03/2012.

[12] Báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ I và phương hướng công tác nhiệm kỳ II của Liên đoàn luật sư Việt Nam, ngày 23/04/2015

[13] Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020 (ban hành kèm theo quyết định số 1072/QĐ-TTg ngày 5/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ)

([14]) Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020 (ban hành kèm theo quyết định số 1072/QĐ-TTg ngày 5/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ)

([15]) Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020 (ban hành kèm theo quyết định số 1072/QĐ-TTg ngày 5/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ)

[16] Báo cáo tổng kết 5 năm thi hành Luật luật sư của Bộ Tư Pháp, ngày 06/03/2012

[17] Báo cáo tổng kết 5 năm thi hành Luật luật sư của Bộ Tư Pháp, ngày 06/03/2012

[18] Báo cáo tổng kết 5 năm thi hành Luật luật sư của Bộ Tư Pháp, ngày 06/03/2012

([19]) Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020 (ban hành kèm theo quyết định số 1072/QĐ-TTg ngày 5/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ)

([20]) Thông tin và số liệu được cung cấp bởi Đoàn Luật sư tỉnh Nghệ An

([21]) Thông tin và số liệu được cung cấp bởi Đoàn Luật sư tỉnh Nghệ An

[22] Quyết định số 2203/QĐUB của UBND tỉnh Nghệ An về  ban hành kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

([23])  Quyết định số 2203/QĐUB của UBND tỉnh Nghệ An về  ban hành kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s