Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật

Bài trích từ Khóa luận tốt nghiệp năm 2015 – GVHD: Tiến sĩ Nguyễn Hiền Phương

Bài nghiên cứu đạt giải xuất sắc cuộc thi nghiên cứu khoa học về quyền con người năm 2015

Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện hành đảm bảo sự phù hợp với Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật

Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá XIII, tại kì họp thứ 8 đã phê chuẩn Công ước về quyền của người khuyết tật. Việc sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam theo tinh thần Công ước là yêu cầu tất yếu và điều này trước hết đặt ra trách nhiệm to lớn đối với Nhà nước ta hiện nay khi bên cạnh tư cách là thành viên của Liên hợp quốc, thành viên các công ước về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, thành viên của Hội đồng nhân quyền, chúng ta còn là thành viên chính thức của Công ước về quyền của người khuyết tật. Theo đánh giá chung của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi Việt Nam chuẩn bị các điều kiện cần thiết trình Quốc hội phê chuẩn Công ước, về cơ bản pháp luật Việt Nam hiện hành được coi là tương thích với các quy định của Công ước. Tuy vậy, để đảm bảo thực thi một cách đầy đủ và có trách nhiệm theo tinh thần quy định của Công ước, Việt Nam vẫn cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật của quốc gia mình nhằm bảo đảm vững chắc, toàn diện các quyền của người khuyết tật, trong đó chúng ta cần hết sức chú trọng phương hướng và các giải pháp nhiệm vụ lớn sau:

Thứ nhất, rà soát, sửa đổi, bổ sung, thống nhất sử dụng thuật ngữ “khuyết tật” thay cho “tàn tật” trong toàn bộ hệ thống chính sách, pháp luật và các văn bản chính thức khác của Nhà nước, trong đời sống xã hội nhằm bảo đảm tính tương thích của chính sách, pháp luật, các định chế xã hội Việt Nam so với các điều khoản cụ thể (Điều 1, Điều 2 Công ước) và tinh thần chung trong các quy định của Công ước; mặt khác, tôi cho rằng điều quan trọng ở đây là chúng ta cần sửa đổi, hoàn thiện khái niệm người khuyết tật trong pháp luật Việt Nam theo tinh thần Công ước. Khái niệm người khuyết tật trong Luật người khuyết tật Việt Nam hiện nay tuy có tính cụ thể nhưng chưa thật sự đứng trên quan điểm, góc nhìn xã hội, chưa đảm bảo tính tiếp cận trên quyền và còn mang tính mô tả điều kiện khó khăn hay những điểm yếu hay bất lợi thế của chủ thể (ở đây là người khuyết tật ). Mặt khác, nhiệm vụ căn bản, lâu dài là chúng ta phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền của người khuyết tật  theo hướng bảo đảm vững chắc, thực chất nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử (không chỉ bình đẳng trên danh nghĩa pháp lí). Do vậy cần xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận toàn diện, đầy đủ các quyền của người khuyết tật  trên tất cả các lĩnh vực của đời sống dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội bình đẳng như tất cả những người không khuyết tật. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, Luật người khuyết tật, các luật điều chỉnh quan hệ xã hội trên tất cả các lĩnh vực của đời sống dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá cần phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử một cách thống nhất, đồng bộ, phải bảo đảm quyền tiếp cận của người khuyết tật  một cách đầy đủ, trọn vẹn

Thứ hai, cần quy định cụ thể, chi tiết về vấn đề xác định mức độ khuyết tật và cấp giấy chứng nhận khuyết tật. Xác định mức độ khuyết tật và cấp giấy chứng nhận khuyết tật có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người khuyết tật, mặc dù đã có một số các quy định về vấn đề này, tuy nhiên việc xác định mức độ khuyết tật để được hưởng trợ cấp định kỳ hàng tháng của Nhà nước vẫn đang là một khó khăn đối với các cơ quan thực thi chính sách cũng như với bản thân người khuyết tật. Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định khá lỏng lẻo cũng như chưa cụ thể về vấn đề này. Vì vậy, cần có những quy định chi tiết, cụ thể hơn về điều kiện hồ sơ, quy trình thủ tục và cách thức thực hiện khi xác định mức độ khuyết tật và cấp giấy chứng nhận khuyết tật cho người khuyết tật, vừa đảm bảo tính linh hoạt, hiệu quả của thực thi pháp luật, vừa tạo điều kiện dễ dàng thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền của mình.

Thứ ba, về vấn đề chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ và phục hồi chức năng để người khuyết tật sống độc lập và hòa nhập cộng đồng: Pháp luật Việt Nam hiện hành về lĩnh vực chăm sóc sức khỏe chủ yếu tập trung vào vấn đề khám chữa bệnh và bảo hiểm y tế đối với người khuyết tật mà ít quan tâm đến những vấn đề khác có ý nghĩa hết sức quan trọng. Vì vậy, tôi cho rằng, pháp luật Việt Nam cần:

– Quy định về vấn đề “y tế dự phòng” đối với người khuyết tật: Dự phòng có vai trò quan trọng cho người khuyết tật và gia đình, nhân viên y tế cũng cần nhận thức được nhu cầu của người khuyết tật, làm sao để người khuyết tật dễ tiếp cận với các hoạt động dự phòng, dịch vụ tư vấn; cần đảm bảo trẻ em khuyết tật được tiêm chủng đầy đủ, chăm sóc phát hiện những dấu hiệu suy dinh dưỡng ở trẻ khuyết tật, có thể tăng cường giám sát sự tăng trưởng và cung cấp các vi chất dinh dưỡng và thực phẩm bổ sung cho trẻ khuyết tật. Đối với tất cả các bà mẹ cần được chăm sóc tiền sản như được tiêm chủng Rubella trước 3 tháng khi có thai, uống viên sắt – axit folic đầy đủ, đi khám thai đầy đủ, nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ,…đều là những biện pháp quan trọng giúp phòng các khuyết tật cho trẻ.

– Quy định cụ thể “trách nhiệm của cơ sở y tế” trong vấn đề chăm sóc sức khỏe người khuyết tật nhằm nâng cao trách nhiệm, năng lực, chính sách khám chữ bệnh cấp cơ sở.

– Hoàn thiện quy định về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ y tế, phát triển nghề công tác xã hội, đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động phục hồi chức năng cho người khuyết tật (dựa vào cộng đồng) để họ có thể sống độc lập và thật sự hoà nhập vào đời sống cộng đồng xã hội.

Thứ tư, về lĩnh vực giáo dục: cần quy định về vấn đề “giáo dục hòa nhập” nhằm“đảm bảo một hệ thống giáo dục hòa nhập ở tất cả các cấp” sao cho pháp luật trong nước phù hợp với Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật.

– Pháp luật hiện hành cần quy định cụ thể về trách nhiệm quản lý, cưỡng chế cũng như chế tài xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật về chế độ giáo dục đối với người khuyết tật như các hành vi phân biệt đối xử, từ chối tiếp nhận người khuyết tật vào học… đồng thời, cần có những cơ chế khuyến khích khen thưởng phù hợp như tổ chức tuyên dương, tặng bằng khen… đối với các cá nhân, tổ chức, cơ quan có nhiều đóng góp hỗ trợ người khuyết tật, có thể có những chính sách ưu đãi về tài chính như trợ cấp, cho vay vốn với lãi suất thấp, ưu tiên về mặt bằng để xây dựng trường, lớp hoặc cho mượn, tặng đồ dùng học tập, thiết bị chuyên dùng cho người khuyết tật…đối với trường, lớp do tổ chức, cá nhân thành lập để quyền của người khuyết tậtđược đảm bảo một cách triệt để hơn.

Thứ năm, về lĩnh vực dạy nghề và việc làm: Pháp luật Việt Nam hiện nay mới chỉ dừng lại ở mức quy định chung đối với các cơ sở dạy nghề mà chưa có quy định về đánh giá mức độ khuyết tật theo khả năng lao động. Vì vậy, việc dạy nghề cho người khuyết tật khó có thể phù hợp với khả năng lao động của họ và yêu cầu nghề nghiệp trong tương lai. Về cơ bản, pháp luật Việt Nam về dạy nghề và việc làm là phù hợp với quy định của Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật. Tuy nhiên, chúng ta cần bổ sung các quy định nhằm đẩy mạnh việc tuyển dụng người khuyết tật vào khu vực công và bảo đảm có sự điều chỉnh hợp lý tại nơi làm việc để tạo điều kiện cho người khuyết tậtlàm việc.

Thứ sáu, về vấn đề tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao, giải trí, du lịch: Pháp luật Việt Nam đã có những quy định chi tiết về tiếp cận văn hóa, thể thao, giải trí và du lịch. Tuy nhiên, lĩnh vực giải trí và du lịch chưa được pháp luật chú trọng ở mức độ cần thiết. Do vậy, cần đưa ra những quy định rõ ràng và cụ thể hơn đối với hai lĩnh vực này. Ngoài ra, pháp luật cũng cần quy định các biện pháp đảm bảo để người khuyết tật thực sự được hưởng các quyền trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, giải trí và du lịch.

          Thứ bảy, về vấn đề tiếp cận giao thông, công nghệ thông tin và truyền thông: Về cơ bản, các quy định hiện hành của Việt Nam phù hợp với điều kiện thực tiễn của nước ta. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về cơ quan chịu trách nhiệm thực thi những quy định này. Quy định Luật người khuyết tật về công nghệ thông tin và truyền thông dành cho người khuyết tật mới chỉ dừng lại ở mức khuyến khích phát triển mà chưa có quy định cụ thể để người khuyết tật có thể tiếp cận được, đặc biệt về sử dụng ngôn ngữ ký hiệu, chữ nổi Braille, cỡ chữ lớn và những hình thức truyền thông khác. Do vậy, cần bổ sung những quy định vừa nêu, đồng thời cần quy định những biện pháp kiểm tra, giám sát, xử phạt đối với tổ chức, cá nhân vi phạm những quy chuẩn về tiếp cận giao thông, công nghệ thông tin và truyền thông nhằm đảm bảo quyền lợi cho người khuyết tật.

Thứ tám, hoàn thiện quy định của pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận công lí và quyền được trợ giúp pháp lí của người khuyết tật; cần sửa đổi Luật trợ giúp pháp lí theo hướng khẳng định trực tiếp quyền này của tất cả những người khuyết tật, không phân biệt hoàn cảnh cụ thể của mỗi người khuyết tật (có nơi nương tựa hay không); cần lồng ghép vấn đề bảo đảm quyền của người khuyết tật vào các biện pháp cụ thể trong tiến trình cải cách tư pháp, cải cách nền hành chính quốc gia cũng như tổ chức và hoạt động của các thiết chế dịch vụ cộng đồng, xã hội dân sự khác.

 

 

 

 

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s